Công nghệ y tế là một trong các yếu tố quan trọng tác động đến việc vận hành hệ thống y tế. Công nghệ y tế bao gồm dược phẩm, vật tư y tế, trang thiết bị có vai trò cốt yếu trong chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng và chăm sóc sức khỏe nói chung. Nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ y tế, vào tháng 5 năm 2007, Đại hội đồng y tế Thế giới đưa ra Nghị quyết WHA60.29 nhằm tập trung giải quyết những vấn đề xoay quanh các bất cập trong triển khai và sử dụng công nghệ y tế. Tổ chức y tế Thế giới (World Health Organization - WHO) đã xây dựng các nội dung cơ bản của Sáng kiến Toàn cầu về công nghệ y tế, với mục tiêu chung là đảm bảo khả năng tiếp cận các công nghệ y tế cơ bản, nhằm kiểm soát hiệu quả vấn đề sức khỏe, đáp ứng được tình trạng kinh tế của các khu vực khó khăn, điều kiện hạn chế. Để đạt được mục tiêu trên, WHO và các đối tác đã và đang phát triển mục tiêu định hướng, kế hoạch hành động, các công cụ và hướng dẫn nhằm nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ y tế phù hợp. Trong đó, phát triển chuyên ngành Đánh giá công nghệ y tế là một yếu tố rất then chốt trong kế hoạch hành động của WHO và các nước trên thế giới.

Đánh giá công nghệ y tế (Health Technology Assessment - HTA) là phương pháp đánh giá, phân tích các khía cạnh y học, dịch tễ học, xã hội học và kinh tế học của các công nghệ y tế (bao gồm thuốc, vắc xin, vật tư y tế, thiết bị y tế, dịch vụ y tế và cả các can thiệp y tế công cộng). Trong đánh giá công nghệ y tế, đánh giá kinh tế dược đang là một lĩnh vực được quan tâm, làm cơ sở cho việc ban hành danh mục thuốc được quỹ bảo hiểm y tế (BHYT), ngân sách nhà nước hoặc các nguồn tài chính y tế công chi trả 

Để đưa ra những giải pháp dựa trên bằng chứng (evidence-based solution), nhà nghiên cứu đánh giá cần xác định rõ các vấn đề về chính sách y tế liên quan tới khía cạnh an toàn, hiệu lực, hiệu quả của các can thiệp y tế, tác động của các can thiệp đó trên phương diện tâm lý, xã hội, đạo đức, tổ chức hệ thống và kinh tế. Tùy vào bối cảnh cụ thể trong quá trình ra quyết định, nhà hoạch định chính sách có thể sẽ cần bằng chứng về các khía cạnh khác nhau, trong đó khía cạnh về kinh tế luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Các phân tích về khía cạnh kinh tế bao gồm phân tích chi phí-lợi ích (cost-benefit analysis), chi phí- hiệu dụng (cost-utility analysis), chi phí-hiệu quả (cost-effectiveness analysis), tối thiểu hóa chi phí (cost-minimization analysis), tác động ngân sách (BIA- Budget Impact Analysis) và các phân tích đánh giá kinh tế khác. Yêu cầu bằng chứng về hiệu quả kinh tế và tác động ngân sách của thuốc đã dần trở thành yêu cầu quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong quản lý chi phí khám chữa bệnh được Quỹ BHYT chi trả.

Để tìm hiểu về vai trò, tầm quan trọng của đánh giá công nghệ y tế trong việc xây dựng chính sách và những định hướng phát triển hệ thống đánh giá công nghệ y tế tại Việt Nam, TS. BS. Lê Văn Khảm - Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế và GS. TS. BS. Hoàng Văn Minh - Hiệu trưởng trường Đại học Y tế công cộng đã chia sẻ quan điểm, nhận định và đánh giá, cũng như khuyến nghị về kế hoạch phát triển lĩnh vực đánh giá công nghệ y tế tại Việt Nam.

Đánh giá công nghệ y tế đóng vai trò như thế nào trong việc xây dựng chính sách BHYT?  

TS.BS. Lê Văn Khảm - Vụ Trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế

Theo TS.BS. Lê Văn Khảm, với vai trò là Vụ chuyên ngành thuộc Bộ Y tế, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước về BHYT, Vụ BHYT đã sớm tiếp cận việc áp dụng các bằng chứng HTA trong việc xây dựng chính sách và các gói quyền lợi BHYT. TS. Khảm nhận định: “Tại Việt Nam, với nguồn lực dành cho y tế nói chung và quỹ bảo hiểm y tế nói riêng còn hạn chế nhưng phải đáp ứng việc bao phủ ngày càng nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe thì đánh giá công nghệ y tế, đặc biệt là đánh giá kinh tế dược cần được đẩy mạnh và ứng dụng trong quá trình xác định gói quyền lợi BHYT về thuốc; danh mục thuốc do quỹ BHYT chi trả có tác động đến sử dụng thuốc hợp lý thực hành lâm sàng, cung ứng và quản lý thuốc”. Theo số liệu thống kê, thuốc chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi bảo hiểm y tế với 61,6%; 41,0%; 34,0% tương ứng các năm 2010, 2016 và 2017. Chính vì vậy, việc ban hành Danh mục thuốc BHYT là một trong những yếu tố rất quan trọng quyết định đến việc vận hành tốt hệ thống bảo hiểm y tế. Trong đó, HTA là công cụ phục vụ cho việc xây dựng danh mục thuốc BHYT, điều kiện sử dụng và tỷ lệ chi trả chi phí sử dụng thuốc. Ngoài ra, HTA còn là cơ sở để thiết lập mức độ ưu tiên, đưa ra các quyết định phân bổ nguồn lực dựa trên bằng chứng và phát triển các gói quyền lợi BHYT để giúp đạt được bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân. HTA có thể giải quyết các vấn đề trọng tâm như: Những loại dịch vụ nào nên được cung cấp và trong những điều kiện nào? Trong bối cảnh ngân sách hạn chế và ít thay đổi, loại dịch vụ nào nên được ưu tiên, đối tượng thụ hưởng là ai, ở đâu? Nên mở rộng hay loại trừ phạm vi quyền lợi BHYT của các dịch vụ y tế, bao gồm cả thuốc hiện có không?...  Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011- 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Ban hành kèm theo Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013) đã nêu rõ: trong giai đoạn tới, một trong các nhiệm vụ quan trọng của hệ thống y tế là “Xây dựng các tiêu chuẩn và triển khai công tác đánh giá công nghệ y tế để xác định các can thiệp y tế có hiệu lực, hiệu quả, chi phí thấp, bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế”.

Trong thời gian tới, việc sử dụng bằng chứng đánh giá công nghệ y tế trong xây dựng chính sách thuốc BHYT sẽ trở thành yêu cầu bắt buộc, nhất là đối với các thuốc được đề xuất bổ sung mới vào Danh mục do quỹ BHYT chi trả. Cụ thể, theo quyết định số 5315/QĐ-BYT ngày 31/08/2018 của Bộ Y tế, các thuốc mới khi xem xét để bổ sung vào danh mục thuốc BHYT thì cần có bằng chứng đánh giá công nghệ y tế và kinh tế dược, trong đó có bằng chứng khoa học về chi phí-hiệu quả so với thuốc có trong hướng dẫn hoặc thuốc đã có trong Danh mục. Bên cạnh đó, trong quá trình xây dựng Danh mục thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT ban hành kèm theo Thông tư số 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018, Bộ Y tế đã yêu cầu các đơn vị liên quan cung cấp bằng chứng đánh giá tác động ngân sách, khuyến khích thực hiện nghiên cứu kinh tế dược để xem xét, bổ sung thuốc mới vào Danh mục do BHYT chi trả.

Ngành y tế Việt Nam đã chuẩn bị như thế nào để ứng dụng đánh giá công nghệ y tế vào việc xây dựng chính sách y tế, đặc biệt là chính sách bảo hiểm y tế?

TS. Lê Văn Khảm cho biết, để thực hiện nhiệm vụ này, từ năm 2018 đến nay, Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị Đánh giá Công nghệ Y tế thường niên tại Việt Nam với sự tham gia của đại diện các Vụ, Cục, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Trường đại học, Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu, các bệnh viện, các Tổ chức quốc tế… nhằm mục tiêu phát triển năng lực đánh giá công nghệ y tế tại Việt Nam và tăng cường ứng dụng vào việc xây dựng chính sách y tế, đặc biệt là chính sách bảo hiểm y tế. Tại các hội nghị này, nhiều chuyên gia đến từ các quốc gia đã thành công chính sách và danh mục thuốc BHYT như Úc, Canada, Bỉ, Singapore... đã được mời dự và có những bài báo cáo, thuyết trình và chia sẻ kinh nghiệm. Bên cạnh đó, nhiều hội thảo khoa học có quy mô khác nhau, các hội thảo chuyên đề và các nghiên cứu liên quan đến HTA, mà trọng tâm là đánh giá kinh tế dược đã được thực hiện.

Bộ Y tế đã và đang tiếp tục thực hiện một số hoạt động tập trung vào một số nội dung như: xây dựng và ban hành 4 bộ nguyên tắc, tiêu chí yêu cầu về bằng chứng đánh giá công nghệ y tế trong xây dựng Danh mục thuốc thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT; xây dựng hướng dẫn về đánh giá công nghệ y tế; hướng dẫn chuẩn bị báo cáo phân tích kinh tế dược, hướng dẫn đánh giá các báo cáo phân tích kinh tế dược; triển khai xây dựng Mạng lưới đánh giá kinh tế Dược nhằm kết nối giữa Bộ Y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Sở Y tế, cơ sở khám chữa bệnh với chuyên gia kinh tế y tế đến từ các Viện, Trường, Hội, Trung tâm nghiên cứu, các công ty dược phẩm; tiến hành xây dựng ngưỡng sẵn sàng chi trả áp dụng trong điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam; xây dựng cơ sở dữ liệu về chi phí dịch vụ y tế tại Việt Nam.

Những khó khăn, hạn chế trong việc phát triển HTA ở Việt Nam và giải pháp để cải thiện

Trong quá trình thực hiện HTA, có một số khó khăn, hạn chế như: nguồn nhân lực có chuyên môn phù hợp còn thiếu, nhận thức về HTA chưa đầy đủ, hoạt động hợp tác, chia sẻ thông tin giữa các chuyên gia, các nhà nghiên cứu chưa gắn kết chặt chẽ và thường xuyên. Đồng thời, hiện nay cũng chưa có cơ quan, đơn vị được chính thức giao nhiệm vụ chuyên trách về lĩnh vực đánh giá công nghệ y tế,  các văn bản quy phạm pháp luật, công cụ hướng dẫn chưa đầy đủ, cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá công nghệ y tế chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng. Để khắc phục, tháo gỡ những rào cản, hạn chế, thứ nhất, cần thiết lập và vận hành hiệu quả Hệ thống đánh giá công nghệ y tế Việt Nam. Thứ hai, cần triển khai đào tạo chuyên sâu về chuyên môn đánh giá công nghệ y tế, đánh giá kinh tế dược; nên có chương trình đào tạo chính thức, chuyên sâu về đánh giá công nghệ y tế trong các trường y, dược, y tế công cộng; tăng cường đào tạo, tập huấn, tổ chức thực hiện các nghiên cứu trong lĩnh vực đánh giá công nghệ y tế; tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi học thuật, nghiên cứu khoa học. Thứ ba, người làm việc trong ngành y tế, bao gồm cả quản lý, nghiên cứu khoa học và thực hành lâm sàng, ngành bảo hiểm xã hội cần nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về đánh giá công nghệ y tế, đặc biệt về tầm quan trọng của các bằng chứng có được từ đánh giá kinh tế dược trong quá trình hoạch định chính sách và ra quyết định.

Vấn đề nguồn nhân lực cho HTA và định hướng phát triển đào tạo Thạc sĩ y tế công cộng eHTA.

GS. TS. BS. Hoàng Văn Minh, Hiệu trưởng trường Đại học Y tế công cộng

GS. TS. BS. Hoàng Văn Minh, Hiệu trưởng trường Đại học Y tế công cộng là người đã có hơn 20 năm kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu về y tế công cộng, phương pháp nghiên cứu khoa học và kinh tế y tế. GS là chuyên gia tư vấn nghiên cứu của nhiều cơ quan, tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế Thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc, Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới… cũng như nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện tại Việt Nam. Là một chuyên gia hàng đầu và hiểu rõ về lĩnh vực HTA, GS. Minh nhận định rằng nguồn nhân lực của hệ thống Đánh giá Công nghệ y tế đang hạn chế. Thực tế, các chuyên gia về lĩnh vực HTA hiện nay chủ yếu là đội ngũ cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên thực hiện công tác giảng dạy và nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế y tế, kinh tế dược đến từ các Trường Đại học, Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu. Tại các Sở Y tế và các cơ sở khám, chữa bệnh ở các tỉnh, thành đều chưa có cán bộ được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực HTA. HTA là khái niệm mới đối với các đơn vị. Bên cạnh đó, có một số nhân viên từ các công ty Dược phẩm cho biết họ chưa có kiến thức và hoàn toàn chưa được đào tạo về vấn đề kinh tế y tế. Trong khi đó, các khóa đào tạo về HTA ở Việt Nam hiện nay rất ít. Vì vậy, đào tạo nâng cao năng lực và nhận thức của nghiên cứu viên về HTA trở thành nội dung thiết yếu trong phát triển hệ thống HTA tại Việt Nam.

GS. TS. BS. Hoàng Văn Minh cho biết nhằm khắc phục tình trạng thiếu nhân lực chất lượng cao trong nghiên cứu HTA, nhà trường đã và đang phối hợp với các đơn vị, ban ngành triển khai các khóa đào tạo ngắn hạn, hội thảo khoa học, nhằm tạo môi trường học hỏi, phát triển, nâng cao năng lực của các nhà nghiên cứu trong nước. Đồng thời, nhà trường đã triển khai khóa đầu tiên chương trình Thạc sĩ Y tế công cộng, định hướng Đánh giá Công nghệ Y tế (Master of Public Health - excellence in Health Technology Assessment) với 4 chuẩn đầu ra chính: (1) hiểu biết những kiến thức cốt lõi của y tế công cộng, bao gồm thống kê – dịch tễ nâng cao, quản lý y tế, chính sách y tế và đánh giá công nghệ y tế, (2) hiểu biết những kiến thức và kỹ năng cơ bản về đánh giá công nghệ y tế, (3) áp dụng những kỹ năng quản lý trong lập kế hoạch và nghiên cứu liên quan đến HTA, (4) xây dựng và thực hiện các nghiên cứu với các thiết kế khác nhau nhằm cung cấp các bằng chứng khoa học cho các bên liên quan trong lĩnh vực đánh giá công nghệ y tế, và (5) tham gia xây dựng và đánh giá chính sách y tế liên quan đến công nghệ y tế tại Việt Nam. Với kỳ vọng đào tạo được các nghiên cứu viên có kĩ năng tốt trong triển khai nghiên cứu HTA, các học viên của chương trình cũng thường xuyên được tham gia những khoá đào tạo giúp nâng cao hiểu biết và năng lực nghiên cứu.

Vai trò của Trường Đại học Y tế công cộng trong sự phát triển của HTA tại Việt Nam

Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội là đơn vị hàng đầu trong nghiên cứu khoa học về y tế công cộng tại Việt Nam hiện nay. Các Trung tâm nghiên cứu của trường Đại học Y tế công cộng cũng chủ động phối hợp tham gia các nghiên cứu HTA. Đặc biệt, nhà trường chú trọng nâng cao năng lực xuất bản quốc tế, một phần giúp cung cấp thông tin chất lượng tốt cho quá trình hoạch định chính sách, đồng thời khẳng định vị thế và khả năng nghiên cứu HTA của Việt Nam với cộng đồng khoa học quốc tế. Điển hình như Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Sức khỏe (CPHS - Center for Population Health Science), với sứ mệnh thực hiện các nghiên cứu có chất lượng cao để tạo ra các bằng chứng khoa học có giá trị đối với công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của người dân, đã có rất nhiều bài báo HTA được xuất bản tại các tạp chí khoa học quốc tế. Nhiều nghiên cứu viên của CPHS có năng lực nghiên cứu tốt về y tế công cộng, y học lâm sàng, dịch tễ học, thống kê y sinh… cũng được tham gia “Mạng lưới Đánh giá Công nghệ y tế Việt Nam”, đóng góp năng lực cho sự phát triển của hệ thống HTA cả nước.

Tầm nhìn và triển vọng trong đào tạo, nghiên cứu khoa học của trường Đại học Y tế công cộng

GS. TS. BS. Hoàng Văn Minh  cho biết, hiện tại, nhà trường đang tích cực thiết kế chương trình giảng dạy về HTA phù hợp và trọng tâm. Kỳ vọng trong thời gian gần, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có thể tiếp cận các chương trình đào tạo một cách dễ dàng, trực tiếp và trên các nền tảng số. Trong tương lai, nhà trường sẽ liên hệ với các trường Đại học trên thế giới, nhằm phát triển những chương trình trao đổi kinh nghiệm, trải nghiệm thực tế giúp nâng cao năng lực của các nghiên cứu viên trong nước. Trường Đại học Y tế công cộng cũng tích cực phối hợp với các ban ngành, các trường Đại học và Viện Nghiên cứu trong khu vực để triển khai các nghiên cứu HTA cả trong nước và quốc tế.

Có thể thấy, Đánh giá Công nghệ y tế là một nhiệm vụ hết sức quan trọng được đặt ra cho hệ thống y tế, bảo hiểm y tế trong thời gian tới. Việc xây dựng tốt các tiêu chí, cũng như ứng dụng HTA vào việc xây dựng chính sách y tế sẽ giúp xác định các can thiệp y tế có hiệu lực, hiệu quả, chi phí thấp, bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và khả năng chi trả của quỹ BHYT, góp phần thực hiện thành công “Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, thực hiện mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân và bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Sức khỏe (CPHS) - Trường Đại học Y tế công cộng

Chủ đề :